Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là gì? Học sinh có được thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không?

Tìm hiểu tội sản xuất buôn bán hàng giả? Học sinh có được thực hiện hành vi vi...



Tìm hiểu tội sản xuất buôn bán hàng giả? Học sinh có được thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không?







Tội sản xuất buôn bán hàng giả là gì?

Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định cụ thể định nghĩa tội sản xuất, buôn bán hàng giả là gì? Nhưng có thể hiểu tội sản xuất, mua bán hàng giả hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc sản xuất, chế tạo hoặc buôn bán các sản phẩm, hàng hóa giả mạo, không đúng với chất lượng, nguồn gốc, nhãn mác hoặc thành phần đã được công nhận. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại cho nền kinh tế mà còn đe dọa sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng.

Những dấu hiệu pháp lý giúp nhận diện tội sản xuất buôn bán hàng giả bao gồm:

Chủ thể

Người sản xuất buôn bán hàng giả có thể là bất kỳ ai, từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm sự và đã thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trên lãnh thổ Việt Nam.

Ngoài ra, hành vi buôn bán, sản xuất hàng giả cũng có thể được thực hiện bởi pháp nhân thương mại, bao gồm: doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.

Khách thể

Tội sản xuất buôn bán hàng giả xâm phạm đến hoạt động quản lý thị trường của Nhà nước đối với việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán các loại hàng hóa được phép sản xuất, kinh doanh, buôn bán, sử dụng trên thị trường, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất, kinh doanh hàng hóa và người tiêu dùng.

Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện qua 02 hành vi chính là sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả, cụ thể:

– Sản xuất hàng giả là hành vi tạo ra các loại sản phẩm, hàng hóa giống hệt hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu, hàng hóa của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, bao gồm việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng giả.

– Buôn bán hàng giả là hành vi mua đi bán lại loại hàng hóa biết rõ là giả nhằm thu lời bất chính. Hành vi này bao gồm việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông.

Hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả gây ra là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp, gây thiệt hại đến lợi ích vật chất, uy tín của doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa bị người sản xuất, buôn bán hàng giả gây ra.

Mặt chủ quan

Người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Chủ thể thực hiện tội phạm nhận thức rõ mặt hàng mà mình sản xuất, buôn bán là hàng giả nhưng vẫn cố tình và mong muốn thực hiện tội phạm vì mục đích trục lợi.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là gì? Học sinh có được thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không? (Hình từ Internet)

Hình phạt của tội sản xuất buôn bán hàng giả như thế nào?

Căn cứ Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bởi điểm a, b khoản 42 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định hình phạt đối với tội sản xuất buôn bán hàng giả như sau:

[1]. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194 và 195 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

– Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

– Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

– Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

[2]. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

– Có tổ chức;

– Có tính chất chuyên nghiệp;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

– Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

– Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

– Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

– Làm chết người;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

– Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

– Buôn bán qua biên giới;

– Tái phạm nguy hiểm.

[3]. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

– Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

– Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

– Làm chết 02 người trở lên;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

– Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.”;

[4]. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[5]. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt như sau:

– Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, đ, e, g, h, i, k, l và m khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;”.

– Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

– Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

– Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Học sinh có được thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không?

Căn cứ Điều 37 Điều lệ ban hành theo Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT quy định các hành vi học sinh không được làm như sau:

Các hành vi học sinh không được làm1. Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, người khác và học sinh khác.2. Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh.3. Mua bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất gây nghiện, các chất kích thích khác và pháo, các chất gây cháy nổ.4. Sử dụng điện thoại di động, các thiết bị khác khi đang học tập trên lớp không phục vụ cho việc học tập và không được giáo viên cho phép.5. Đánh nhau, gây rối trật tự, an ninh trong nhà trường và nơi công cộng.6. Sử dụng, trao đổi sản phẩm văn hóa có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.7. Học sinh không được vi phạm những hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luậl.

Như vậy, học sinh không được thực hiện hành vi vi phạm pháp luật theo quy định.



Chuyên mục: Giáo Dục
Nguồn: THPT Phạm Kiệt