Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 năm 2025 có đáp án? Quy định hình thức đánh giá học sinh trung học cơ sở?

Đáp án đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2? Quy định hình thức đánh giá...



Đáp án đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2? Quy định hình thức đánh giá đối với các môn học của học sinh trung học cơ sở như thế nào?






Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án?

Dưới đây là tổng hợp các mẫu đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án mà các bạn có thể tham khảo:

(1) Đề số 1 – Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án:

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề thi Học kì 2

năm 2025

Môn: Ngữ Văn 7

Thời gian làm bài: phút

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

“Lễ hội dân gian là sự kiện văn hóa để tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần, thể hiện sức mạnh của cộng đồng làng xã và rộng hơn là của quốc gia, dân tộc […] nhưng ngày nay, lễ hội dân gian lại đang dần biến tướng thành tệ nạn với nhiều hành vi phản văn hóa.

Đó là cảnh người dân chen chúc, xô đẩy, tranh cướp lộc của nhau, 1 số bạn trẻ nóng tính dẫn đến tình trạng ẩu đả, đánh nhau tại lễ hội. Chẳng hạn như lễ hội phết Hiền Quan, Phú Thọ được tổ chức vào ngày 13/1 mới đây. Hàng ngàn thanh niên trai tráng tham gia cướp lộc, chen lấn, xô đẩy, dẫm đạp lên nhau khiến ít nhất 10 người ngất xỉu.

Nằm ở độ cao 1.068m so với mực nước biển, chùa Đồng tại khu di tích Yên Tử, Quảng Ninh được mệnh danh là một trong những “ngôi chùa trên đỉnh núi bằng đồng lớn nhất Châu Á”. […] Để tỏ lòng với Phật, cầu lộc, cầu tài, cầu duyên, người người khi lên đến đây đã đua nhau dùng đồng tiền để thực hiện đủ các hành động mua thần, bán thánh, xua rủi cầu may. Họ chà, xát, gài, ném tiền như những cơn mưa vào chùa Đồng. Với những hành vi mê nhiều hơn tín đó, chùa Đồng, chuông đồng và cả khánh đồng ánh lên màu vàng, đỏ lấp lánh, hao mòn dần đi so với nguyên gốc.

Lễ hội đầu năm là để cầu phúc, lễ chùa đầu năm là để cầu an và chắc chắn sẽ không có phúc lành, bình an ở những nơi mà con người ứng xử với nhau bằng những nắm đấm, bằng bạo lực, bằng những hành động mua thần bán thánh hay bằng những cơ hội kiếm chác mất nhân tính. Có thể nói, tín ngưỡng của người dân Việt Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người.”

(Theo http://vietq.vn)

Câu 1 (1,0 điểm). Xác định thể loại và phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2 (1,0 điểm). Nêu nội dung chính của văn bản?

Câu 3 (1,0 điểm). Theo em, căn cứ vào đâu tác giả cho rằng: “tín ngưỡng của người dân Việt Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người”?

Câu 4 (1,0 điểm). Trước thực trạng trên tác giả có thái độ như thế nào? Vì sao?

Câu 5 (2,0 điểm). Em hãy viết một đoạn văn nêu ít nhất 2 giải pháp khắc phục hiện tượng được đề cập đến trong văn bản trên.

Phần 2: Viết (4 điểm)

Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng sống “ảo” của giới trẻ hiện nay.

Đáp án:

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm)

Câu 1 (1,0 điểm):

– Thể loại: Văn bản nhật dụng.

– Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2 (1,0 điểm):

Nội dung chính của văn bản: Văn bản phản ánh thực trạng đáng buồn về sự biến tướng của các lễ hội dân gian hiện nay, khi mà những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đang bị thay thế bởi những hành vi phản văn hóa, gây mất trật tự và làm suy đồi đạo đức.

Câu 3 (1,0 điểm):

– Tác giả cho rằng “tín ngưỡng của người dân Việt Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người” vì:

– Người dân có những hành vi thiếu văn hóa, bạo lực, tranh cướp lộc, gây mất trật tự tại lễ hội.

– Người dân có những hành động mê tín dị đoan, mua thần bán thánh, làm ô uế nơi linh thiêng.

– Những hành vi đó xuất phát từ lòng tham, sự ích kỷ, vụ lợi của con người.

Câu 4 (1,0 điểm):

– Thái độ của tác giả: Tác giả có thái độ phê phán, lên án mạnh mẽ thực trạng trên.

– Lí do: Vì tác giả nhận thấy những hành vi đó đang làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, làm suy đồi đạo đức xã hội và gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước.

Câu 5 (2,0 điểm):

– Đoạn văn nêu 2 giải pháp khắc phục:

+ Để khắc phục hiện tượng trên, trước hết, cần nâng cao ý thức của người dân về việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Mỗi người cần có ý thức tôn trọng các quy định của lễ hội, hành xử văn minh, lịch sự, tránh những hành vi bạo lực, gây mất trật tự.

+ Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý, giám sát các lễ hội, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về văn hóa truyền thống, giúp người dân hiểu rõ hơn về ý nghĩa của các lễ hội và cách hành xử đúng mực.

Phần 2: Viết (4 điểm)

Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của giới trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, mạng xã hội cũng mang đến những hệ lụy tiêu cực, trong đó có hiện tượng sống “ảo”.

Sống “ảo” là lối sống mà ở đó, con người dành quá nhiều thời gian và tâm trí cho thế giới ảo trên mạng xã hội, thay vì tập trung vào cuộc sống thực tại. Họ xây dựng những hình ảnh hào nhoáng, những câu chuyện không có thật về bản thân, nhằm thu hút sự chú ý và ngưỡng mộ của người khác. Họ “sống” bằng những lượt like, những bình luận, những lời khen ngợi trên mạng xã hội, mà quên đi những giá trị thực sự của cuộc sống.

Hiện tượng sống “ảo” đang ngày càng trở nên phổ biến trong giới trẻ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nó khiến cho con người ta xa rời thực tế, mất kết nối với những người xung quanh, sống cô đơn, khép kín trong thế giới ảo. Nó cũng khiến cho con người ta đánh mất bản thân, sống giả tạo, không dám đối diện với những khuyết điểm của mình. Nghiêm trọng hơn, sống “ảo” có thể dẫn đến những hành vi tiêu cực, thậm chí là phạm pháp, khi con người ta cố gắng tạo ra những hình ảnh “ảo” quá mức so với khả năng thực tế của mình.

Để khắc phục hiện tượng sống “ảo”, trước hết, mỗi người cần có ý thức cân bằng giữa cuộc sống thực và cuộc sống ảo. Hãy dành thời gian cho những hoạt động thực tế, giao lưu với bạn bè, người thân, tham gia các hoạt động xã hội. Hãy sống thật với bản thân, không cố gắng tạo ra những hình ảnh “ảo” để đánh lừa người khác.

Bên cạnh đó, gia đình, nhà trường và xã hội cần tăng cường giáo dục về giá trị sống thực, giúp giới trẻ nhận thức được những hệ lụy của việc sống “ảo”. Cần tạo ra những sân chơi lành mạnh, bổ ích, giúp giới trẻ có những hoạt động thực tế, tránh xa những cám dỗ của thế giới ảo.

Sống “ảo” là một hiện tượng đáng báo động trong xã hội hiện nay. Mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, để xây dựng một cuộc sống thực sự có ý nghĩa.

(2) Đề số 2 – Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án:

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề thi Học kì 2

năm 2025

Môn: Ngữ Văn 7

Thời gian làm bài: phút

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

(1) “Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những niềm người quá đỗi mong manh…

(2) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa… Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu”

(Chu Văn Sơn, Nên bị gai đâm)

Câu 1 (1,0 điểm). Xác định thể loại và phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2 (1,0 điểm). Em hãy cho biết chủ đề của đoạn văn (1).

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật nổi bật được sử dụng trong đoạn văn (2).

Câu 4 (1,0 điểm). Theo em, tại sao tác giả lại cho rằng: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.”?

Câu 5 (2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích, em hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về lòng vị tha.

Phần 2: Viết (4 điểm)

Em hãy viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật con ếch trong truyện Ếch ngồi đáy giếng.

Đáp án:

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm)

Câu 1 (1,0 điểm):

– Thể loại: Văn bản nhật dụng.

– Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận kết hợp với biểu cảm.

Câu 2 (1,0 điểm):

Chủ đề của đoạn văn (1): Sự vô tâm, thô bạo của con người đối với thiên nhiên và những người xung quanh.

Câu 3 (1,0 điểm):

– Biện pháp nghệ thuật nổi bật: Điệp từ, điệp cấu trúc, nhân hóa, tương phản.

– Phân tích tác dụng:

+ Điệp từ, điệp cấu trúc: Nhấn mạnh sự bao dung, độ lượng của thiên nhiên và những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

+ Nhân hóa: Làm cho thiên nhiên và những điều tốt đẹp trở nên gần gũi, có hồn, thể hiện sự trân trọng của tác giả.

+ Tương phản: Làm nổi bật sự vô tâm, thô bạo của con người đối với sự bao dung của thế giới xung quanh.

Câu 4 (1,0 điểm):

Tác giả cho rằng: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.” để nhấn mạnh rằng con người cần phải trải qua những tổn thương, mất mát để nhận ra giá trị của những điều tốt đẹp xung quanh, từ đó biết trân trọng và sống có trách nhiệm hơn.

Câu 5 (2,0 điểm):

Đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ về lòng vị tha:

Lòng vị tha là một đức tính tốt đẹp của con người, thể hiện sự bao dung, độ lượng và sẵn sàng tha thứ cho những lỗi lầm của người khác. Trong cuộc sống, ai cũng có lúc mắc sai lầm, và lòng vị tha giúp chúng ta có cơ hội sửa chữa, làm lại. Thay vì oán hận, trách móc, hãy học cách tha thứ và bao dung với những người xung quanh. Lòng vị tha không chỉ mang lại sự bình yên cho tâm hồn chúng ta, mà còn góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Phần 2: Viết (4 điểm)

Truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng” là một bài học sâu sắc về sự kiêu ngạo, thiển cận và cái giá phải trả cho sự thiếu hiểu biết. Nhân vật chính của câu chuyện, con ếch, là hiện thân cho những kẻ có tầm nhìn hạn hẹp, tự mãn và không chịu mở mang kiến thức.

Đặc điểm nổi bật nhất của con ếch là sự kiêu ngạo. Sống lâu ngày trong giếng, nó tưởng rằng bầu trời chỉ bé bằng cái vung và mình là chúa tể. Nó nhầm lẫn môi trường sống nhỏ bé của mình với toàn bộ thế giới, từ đó sinh ra thói tự cao tự đại, coi thường mọi thứ xung quanh. Sự kiêu ngạo của ếch còn thể hiện ở thái độ huênh hoang, ồm ộp kêu vang động cả giếng, khiến các con vật khác phải sợ hãi.

Bên cạnh sự kiêu ngạo, ếch còn là một kẻ thiển cận, thiếu hiểu biết. Nó chỉ nhìn thế giới qua lăng kính chật hẹp của đáy giếng, không hề biết đến sự rộng lớn của bầu trời, của thế giới bên ngoài. Khi giếng cạn, ếch vẫn giữ thái độ nghênh ngang, không chịu thay đổi, dẫn đến kết cục bi thảm.

Qua nhân vật con ếch, tác giả dân gian muốn gửi gắm một bài học sâu sắc: con người cần phải biết khiêm tốn, học hỏi, mở rộng tầm nhìn, tránh xa thói kiêu ngạo, tự mãn. Những kẻ có tầm nhìn hạn hẹp, tự cho mình là đúng sẽ phải trả giá đắt cho sự thiếu hiểu biết của mình.

(3) Đề số 3 – Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án:

Phòng Giáo dục và Đào tạo …

Đề thi Học kì 2

năm 2025

Môn: Ngữ Văn 7

Thời gian làm bài: phút

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm)

Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

Tôi ru con gái tôi

À ơi con ngủ cho ngoan

Đắp chăn rồi bố mắc màn cho con

Nửa đời nước nước non non

Con vừa một tuổi, bố tròn bốn mươi

Nửa đời đi ngược về xuôi

Đêm nay bố ngắm con cười trong mơ

Môi hồng, da trắng, tóc tơ

Bố cho máu đỏ, mẹ cho hình hài

Trời cho tính nết sau này

Cầu cho con những khéo tay, dịu dàng

Trong đêm con thở nhẹ nhàng

Cầu cho con khỏi bần hàn mai sau

À ơi con ngủ cho lâu

Cầu cho con chẳng một câu luỵ người

À ơi thân gái ở đời

Những nơi tục luỵ con thời tránh xa

“Thiện căn ở tại lòng ta”

Mạnh hơn lẽ quỷ lời ma dọc đường

À ơi thương đến là thương

Cầu cho Thánh Thiện dẫn đường con đi

Đừng ham ngũ sắc làm chi

Trời xanh muôn thuở có gì cũ đâu

Đò đầy, phá rộng, sông sâu

Có qua thì lúc bạc đầu hãy qua

Yêu thơ cùng với yêu hoa

Cũng đừng yêu quá như là bố yêu

Ở nhà biết vá biết thêu

Ra đường kẻ ghẹo người trêu mặc người

À ơi thân gửi ở đời

Cổ kim đâu cũng quý người thuỷ chung

Câu rằng, chị ngã em nâng

Là qua hết được mọi vùng khó qua

Đi cùng con lúc tuổi hoa

Đời người ngắn lắm! Bố già đến nơi

Nay mai trời gọi lên trời

Cũng là đã có mấy lời cho con

À ơi máu đỏ như son

Mai sau con lớn, con còn nhớ chăng?

(Đỗ Trung Lai)

Thực hiện những yêu cầu sau:

Câu 1 (1,0 điểm): Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ?

Câu 2 (0,5 điểm): Nêu nội dung chính của bài thơ?

Câu 3 (1,0 điểm): Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là ai? Nêu những hành động mà nhân vật trữ tình đã thể hiện trong bài bài thơ?

Câu 4 (0,5 điểm): Người cha đã căn dặn con những điều gì?

Câu 5 (1,0 điểm): Anh chị hiểu thế nào về câu thơ:

“Mai sau giời gọi lên giời”.

Câu 6 (2 điểm): Từ nội dung của bài thơ, em hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày về ý nghĩa của lời ru đối với con người.

Phần 2: Viết (4 điểm)

Hãy viết bài văn nghị luận bàn về câu tục ngữ “Học đi đôi với hành”.

Đáp án:

Phần 1: Đọc hiểu (6 điểm)

Câu 1 (1,0 điểm):

– Thể thơ: Thể thơ lục bát.

– Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm kết hợp với tự sự.

Câu 2 (0,5 điểm):

Nội dung chính của bài thơ: Bài thơ là lời tâm tình của người cha dành cho con gái bé bỏng, thể hiện tình yêu thương vô bờ bến cùng những mong ước, dặn dò của người cha dành cho con trên bước đường đời.

Câu 3 (1,0 điểm):

– Nhân vật trữ tình: Người cha.

– Những hành động của nhân vật trữ tình:

+ Ru con ngủ, đắp chăn, mắc màn cho con.

+ Ngắm nhìn con ngủ say, cảm nhận niềm hạnh phúc khi được làm cha.

+ Dành cho con những lời cầu chúc tốt đẹp, những lời khuyên chân thành.

Câu 4 (0,5 điểm):

Những điều người cha căn dặn con:

– Sống hiền lành, tử tế, tránh xa những điều xấu xa.

– Giữ gìn tính cách dịu dàng, khéo léo.

– Không ham mê những điều phù phiếm, luôn trân trọng những giá trị chân thật.

– Sống chung thủy, biết yêu thương và giúp đỡ người khác.

Câu 5 (1,0 điểm):

Câu thơ “Mai sau giời gọi lên giời” có thể hiểu là lời dự cảm về sự ra đi của người cha, đồng thời là lời nhắn nhủ con hãy ghi nhớ những lời dặn dò của cha.

Câu 6 (2,0 điểm):

Đoạn văn ngắn về ý nghĩa của lời ru:

Lời ru là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người, đặc biệt là trong những năm tháng đầu đời. Lời ru không chỉ giúp trẻ em dễ dàng đi vào giấc ngủ, mà còn là sợi dây kết nối tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Trong những lời ru, ta cảm nhận được tình yêu thương vô bờ bến, sự che chở, nâng niu của cha mẹ dành cho con. Lời ru cũng là nơi gửi gắm những ước mơ, hy vọng của cha mẹ về tương lai của con. Lớn lên cùng những lời ru, mỗi người sẽ mang theo hành trang yêu thương để bước vào đời.

Phần 2: Viết (4 điểm)

Câu tục ngữ “Học đi đôi với hành” là một bài học quý giá về phương pháp học tập và làm việc hiệu quả. Câu tục ngữ khẳng định rằng, việc học tập và thực hành phải luôn đi đôi với nhau, bổ trợ cho nhau.

“Học” là quá trình tiếp thu kiến thức, lý thuyết từ sách vở, thầy cô, bạn bè. “Hành” là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, vào công việc, vào cuộc sống. Học mà không hành thì kiến thức chỉ là lý thuyết suông, không có giá trị thực tiễn. Hành mà không học thì công việc sẽ thiếu hiệu quả, dễ mắc sai lầm.

Trong cuộc sống, có rất nhiều tấm gương thành công nhờ biết kết hợp giữa học và hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình. Người không chỉ học tập lý thuyết cách mạng, mà còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn để giải phóng dân tộc. Các nhà khoa học, kỹ sư cũng là những người luôn kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm để tạo ra những sản phẩm, công trình hữu ích cho xã hội.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn còn không ít người có thái độ học tập và làm việc lệch lạc. Một số người chỉ chú trọng đến việc học lý thuyết, mà xem nhẹ việc thực hành. Một số người khác lại chỉ thích làm việc theo kinh nghiệm, mà không chịu học hỏi thêm kiến thức mới. Những thái độ này đều không mang lại hiệu quả cao trong công việc và học tập.

Để “học đi đôi với hành” một cách hiệu quả, mỗi người cần có ý thức tự giác, chủ động trong việc học tập và làm việc. Hãy luôn tìm cách vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, vào công việc của mình. Đồng thời, hãy không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức để đáp ứng yêu cầu của công việc và cuộc sống.

Lưu ý: Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo!

Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án?

Đề thi môn Ngữ văn lớp 7 học kì 2 có đáp án? (Hình ảnh từ Internet)

Quy định hình thức đánh giá đối với các môn học của học sinh trung học cơ sở như thế nào?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 5 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về hình thức đánh giá đối với các môn học của học sinh trung học cơ sở như sau:

– Đánh giá bằng nhận xét đối với các môn học: Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Âm nhạc, Mĩ thuật, Nội dung giáo dục của địa phương, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; kết quả học tập theo môn học được đánh giá bằng nhận xét theo một trong hai mức: Đạt, Chưa đạt.

– Đánh giá bằng nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số đối với các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông, trừ các môn học quy định tại điểm a khoản này; kết quả học tập theo môn học được đánh giá bằng điểm số theo thang điểm 10, nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm 10. Điểm đánh giá là số nguyên hoặc số thập phân được lấy đến chữ số thập phân thứ nhất sau khi làm tròn số.

Điều kiện để học sinh THCS được khen thưởng danh hiệu học sinh xuất sắc là gì?

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 15 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định điều kiện để học sinh THCS được khen thưởng dánh hiệu học sinh xuất sắc như sau:

– Có kết quả rèn luyện cả năm học được đánh giá mức Tốt;

– Kết quả học tập cả năm học được đánh giá mức Tốt;

– Có ít nhất 06 môn học được đánh giá bằng nhận xét kết hợp với đánh giá bằng điểm số có ĐTBmcn đạt từ 9,0 điểm trở lên.



Chuyên mục: Giáo Dục
Nguồn: THPT Phạm Kiệt